Tục thờ cúng trong gia đình
![]()
Những ai là trưởng của một dòng họ, giữ nhà thờ họ thì thờ cúng từ ông thủy tổ. Còn các chi thứ chỉ thờ cúng ngược lên đến ông tổ 4 đời là cùng. Nay, trừ nhà trưởng họ các họ lớn phải cúng lễ nhiều tổ tông, còn thì gia đình chỉ cúng giỗ đến cấp ông nội. Việc cúng giỗ là cụ thể hóa lòng tưởng nhớ ông bà, cha mẹ nên có ý nghĩa tâm linh, trở thánh một lễ thức riêng.
![]()
Theo lệ, trong một gia đình thường có những ngày giỗ gần ( giỗ cha, mẹ), và ngày giỗ xa ( giỗ ông, giỗ bà). Mỗi nhà đều có một ban thờ. Ban thờ đặt ở nơi trang trọng nhất nhà. Ban thờ thường có hai lớp: lớp trong là một cái sập thờ, ở sát vách đặt khám thờ ( trong khám đặt thần chủ ) ghi họ tên, chức tước tổ tiên, rồi ngai thờ ( để tổ tiên ngự tọa ), người thường là một tam sơn ( hai bên thấp, giữa cao lên ) để đặt đĩa trầu cau, chén rượu, đĩa hoa. Lớp trong này đưuọc ngăn với lớp ngoài bằng một y môn tức màn thờ bằng lụa hoặc vải thường là màu đỏ, xẻ dọc đôi thành hai vạt, lúc có cúng lễ thì buộc hai vạt này lên. Bên ngoài là hương án cao hơn sập thờ sơn then hoặc sơn song thếp vàng, trên đặt bát hương và một bộ tam sự ( 1 đỉnh, 2 cây nến) hoặc ngũ sự ( thêm 2 cây đèn hoặc đôi hạc) và ống đựng hương. Đó là bàn thờ nhà trung lưu trở lên. Nhà bình dân thì chỉ có một bàn thờ, trên có bài vị, bát hương, vài chén con để đựng rượu, trà.
![]()
![]()
![]()
Ngày trước, chỉ có con trai trưởng mới được là giỗ, còn những người thuộc hàng con thứ thì phải đến nhà trưởng để góp giỗ. Nay đã thay đổi quan niệm thờ cúng, nếu tiện thì làm giỗ chung ở nhà trưởng, nếu không thì nhà nào cúng giỗ ở nhà ấy vì ông bà, cha mẹ là chung. Lễ vật dâng cúng là tùy tâm, tùy hoàn cảnh. Sang thì cỗ bàn thịnh soạn, bình thường thì đĩa xôi, con gà; nghèo khó thì cơm canh... nhưng, dù hoàn cảnh thế nào thì mâm cúng cũng phải có bát cơm quả trứng.
Xem thêm: Bộ đồ thờ đầy đủ gồm những gì